Thứ năm, 15/10/15

Phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ: Thực trạng và giải pháp


Mục tiêu của Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020 sẽ phát triển 3.000 doanh nghiệp khoa học công nghệ. Đây là con số khá lớn so với tiềm lực sẵn có và theo đánh giá chung, mục tiêu này khó có thể đạt được, bởi cho đến nay hầu hết các vườn ươm vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình ươm tạo. Dự kiến, mô hình này sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc về hình thành pháp nhân, bộ máy, cơ chế điều hành, nguồn nhân lực và vốn... trong giai đoạn sắp tới.

Doanh nghiệp tham gia nghiên cứu và chuyển giao công nghệ

Nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các giải pháp, trong số đó có đề xuất tạo cơ chế khuyến khích phát triển hệ thống các doanh nghiệp (DN) khoa học công nghệ (KHCN). DN KHCN được hình thành dựa trên nền tảng của các công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện tại các trường đại học và các viện nghiên cứu. Các sản phẩm dịch vụ được sản xuất và kinh doanh dựa trên quá trình đổi mới sáng tạo, ít sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, hàm lượng tri thức kết tinh trong sản phẩm, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao, giá thành thấp, tỷ suất lợi nhuận cao.

Tại Quyết định số 1244/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015 và định hướng trong giai đoạn 2015-2020 sẽ phát triển 3.000 DN KHCN. Trong đó, số lượng DN khoa học và công nghệ hình thành từ các trường đại học, viện nghiên cứu chiếm khoảng 70%; đồng thời, tăng giá trị giao dịch thành công trên thị trường khoa học và công nghệ đạt bình quân 15-17%. Để thực hiện mục tiêu trên, ngành Khoa học và Công nghệ đã thực hiện quy hoạch phát triển các khu ươm tạo DN khoa học và công nghệ trên cả nước; đổi mới cơ chế đầu tư và quản lý để tăng cường nguồn lực đóng góp từ xã hội, với sự tham gia của các quỹ đầu tư trong và ngoài nước...

Việt Nam bắt đầu làm quen với khái niệm vườn ươm DN từ năm 2005. Thông qua sự tài trợ của một số tổ chức quốc tế đã có một số vườn ươm được xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về xây dựng hệ thống vườn ươm DN tại các trường đại học của Việt Nam. Đến nay, cả nước đã hình thành được số mô hình vườn ươm DN công nghệ như: Mô hình vườn ươm DN công nghệ trong trường đại học (Vườn ươm thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội); mô hình vườn ươm thuộc DN (Vườn ươm các DN công nghệ thông tin của Tập đoàn FPT; vườn ươm DN thuộc Khu công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh, Khu công nghệ cao Hòa Lạc...); mô hình vườn ươm DN công nghệ cao do Nhà nước quản lý nhằm tổ chức và triển khai các hoạt động hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có ý tưởng và nghiên cứu thực hiện việc hoàn thiện công nghệ, chế thử sản phẩm và thành lập DN.

Theo kết quả khảo sát ý kiến của các nhà khoa học và các đơn vị quản lý khoa học của 13 trường đại học trên toàn quốc cho thấy, các trường đại học, các viện nghiên cứu luôn là đầu mối giúp DN tiếp thu và từng bước làm chủ công nghệ. Các nhà khoa học tham gia ý kiến đều khẳng định, có tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học trong thời gian gần đây, 35,5% trong số họ có hợp đồng chuyển giao công nghệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh... Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều lỗ hổng trong nhận thức về vấn đề ươm tạo DN. Hầu hết các vườn ươm hiện nay đều đang trong giai đoạn đầu của quá trình ươm tạo, do đó còn đối mặt với nhiều khó khăn, vướng mắc về hình thành pháp nhân, bộ máy, cơ chế điều hành, nguồn nhân lực và vốn... Nguyên nhân là do chúng ta chưa có được mô hình, quy trình triển khai và cơ chế quản lý thích hợp, cho nên các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chủ yếu diễn ra trong tình trạng tự phát, manh mún, quy mô nhỏ chưa xứng tầm với tiềm năng, chủ yếu là ở mức dưới 0,5 tỷ đồng...

Các kế hoạch kinh doanh của vườn ươm chưa được điều chỉnh, bổ sung theo thực tế triển khai; chưa có đủ mạng lưới chuyên gia và dịch vụ chuyên nghiệp trong nước nhằm phục vụ công tác ươm tạo; các dịch vụ cung cấp cho DN còn ở mức cơ bản. Nguồn tài chính đầu tư hiện nay cho các vườn ươm (chủ yếu từ trường đại học, ngân sách nhà nước) còn hạn chế và mang tính chất thử nghiệm. Các quỹ đầu tư và tập đoàn lớn chưa quan tâm nhiều đến chương trình. Có đến 2/3 ý kiến được hỏi cho rằng, việc vay vốn quá khó khăn đối với các nhà khoa học, hầu như họ không tiếp cận được với thị trường vốn của các tổ chức tín dụng. Nguyên nhân là do, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phần lớn không có tư cách pháp nhân độc lập (không con dấu, không tài khoản, không mã số thuế). Mặc dù, một số trường đã thành lập các DN để hỗ trợ các nhà khoa học trong hoạt động chuyển giao công nghệ nhưng số các nhà khoa học chọn DN nhà trường lại rất thấp. Trong khi đó, việc cập nhật thông tin về cơ chế, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vẫn đang là một trong những điểm yếu nhất hiện nay của các nhà khoa học Việt Nam.

Vấn đề pháp lý và thỏa thuận chuyển giao công nghệ từ trường đến DN chưa được chuẩn bị kỹ trước khi DN xây dựng kế hoạch kinh doanh, kỹ năng quản lý vườn ươm theo mô hình DN (nhưng phi lợi nhuận), thiếu mạng lưới chuyên gia thường trực để hỗ trợ tư vấn và tạo sự tin tưởng cho DN; hệ thống hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật của các trường đại học còn chưa đáp ứng nhu cầu của DN...

Tiến độ triển khai vườn ươm DN công nghệ tại các trường đại học cũng thường chậm so với kế hoạch, bởi vì: Cán bộ kiêm nhiệm nhiều, thời gian dành cho hoạt động của vườn ươm còn hạn chế, mức lương thấp dẫn tới khó thu hút được người tài vào tham gia quản lý vườn ươm chuyên nghiệp. Chất lượng doanh nghiệp đầu vào còn hạn chế, DN chuẩn bị kế hoạch kinh doanh chưa hoàn chỉnh, mang tính lý thuyết.

Đặc biệt, vấn đề pháp lý và thỏa thuận chuyển giao công nghệ từ trường đến DN chưa được chuẩn bị kỹ trước khi DN xây dựng kế hoạch kinh doanh, kỹ năng quản lý vườn ươm theo mô hình DN (nhưng phi lợi nhuận), thiếu mạng lưới chuyên gia thường trực để hỗ trợ tư vấn và tạo sự tin tưởng cho DN; hệ thống hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật (phòng thí nghiệm, mặt bằng sản xuất thử nghiệm...) của các trường đại học còn chưa đáp ứng nhu cầu của DN...

Định hướng để doanh nghiệp công nghệ phát triển

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình triển khai các hoạt động chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Việt Nam là hết sức cấp thiết. Bởi quy trình quản lý Nhà nước luôn không ngừng đổi mới để phù hợp với tiến trình hội nhập. Theo đó, Nhà nước ngày càng trao thêm quyền tự chủ cho các trường đại học nhưng cũng buộc các trường phải minh bạch trong sử dụng tài sản công. Với nền tảng của hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ khoa học hiện nay, bài viết đề xuất một số định hướng cho quá trình chuyển đổi như sau:

Thứ nhất, cần xây dựng trong các trường đại học một số tổ chức chuyên nghiệp định hướng thị trường đảm nhận các chức năng quản lý sở hữu trí tuệ, đảm bảo quyền sở hữu của nhà trường đối với các sản phẩm KHCN được sáng tạo trong khuôn viên nhà trường; sàng lọc các ấn phẩm có tiềm năng thị trường, ươm tạo và nâng cao giá trị của các sản phẩm KHCN trước khi đem chào bán ra thị trường; tư vấn về góc độ pháp lý và quyền lợi của các bên khi sản phẩm được thương mại hóa...

Thứ hai, đưa các dịch vụ tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh của nhà trường hoạt động theo cơ chế DN - mô hình công ty. Điều này, cho phép tách hoạt động sản xuất kinh doanh ra khỏi các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học thuần túy. Qua đó, giúp cho các trường minh bạch hóa việc sử dụng tài sản công.

Thứ ba, huy động nguồn lực của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, DN trong và ngoài nước tham gia vào quá trình nghiên cứu, ươm tạo và thương mại hóa các sản phẩm KHCN của nhà trường. Với mô hình các công ty cổ phần, các nhà đầu tư bên ngoài hoàn toàn có điều kiện tham gia góp vốn thành lập nên các công ty KHCN. Nhà trường có thể đóng cơ sở vật chất, vốn và thương hiệu; các nhà khoa học có thể đóng góp bằng chính giá trị của các sản phẩm KHCN. Sự kết hợp giữa trí thức của các nhà khoa học với kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư sẽ làm tăng khả năng thành công của các DN.

Thứ tư, các nhà khoa học phải trở thành chủ thể góp vốn, trí tuệ và công sức xây dựng DN. Nhà nước cần cho phép các nhà khoa học của các trường đại học, viện nghiên cứu được phép thành lập công ty nhằm thương mại hóa các sản phẩm KHCN do chính họ sáng tạo ra. Họ có thể góp vốn vào DN bằng chính giá trị của sản phẩm của mình. Một khi quyền lợi của nhà khoa học được đảm bảo thì họ sẽ gắn bó hết mình vì sự phát triển của DN và tạo động lực để có những sản phẩm KHCN mới chuyển giao cho DN....

Số lượt đọc5829